Bài báo (587)



Follow this collection to receive daily e-mail notification of new additions

List of document in the collection

Collection's Items (Sorted by Submit Date in Descending order): 1 to 20 of 587

  • BB


  • Authors: Nguyễn Văn Sỹ;  Advisor: -;  Participants: Nguyễn Hữu Huế; Nguyễn Hữu Thảnh (2020)

  • Phương pháp đánh giá chất lượng nước theo lý thuyết tập mờ ngày càng được biết đến và ứng dụng rộng rãi trong thời gian gần đây bởi có tính mềm dẻo hơn WQI, các tham số tham gia tính toán có thể thay đổi và có khả năng áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhau. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu xây dựng chỉ số chất lượng nước trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy dựa trên kết quả ứng dụng lý thuyết tập mờ, ký hiệu là FWQI (Fuzzy Water Quality Index) với 6 thông số chất lượng nước gồm DO, BOD5, NH4+, NO3-, PO43-, tổng Coliform. So sánh FWQI với WQI tính toán tại 20 vị trí lấy mẫu nước trên sông Nhuệ, sông Đáy, trong hai đợt lấy mẫu năm 2019, cho thấy các kết quả khá phù hợp.

  • BB


  • Authors: Nguyễn Thị Hồng;  Advisor: -;  Participants: Bùi Mạnh Cường (2020)

  • Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đáp ứng của tấm có vết nứt chịu tải trọng di động. Quá trình phân tích đáp ứng của tấm có vết nứt được thực hiện trên cơ sở phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) và đặc biệt tải di động được mô phỏng nhờ kỹ thuật phần tử Sinh - Diệt. Kết quả khảo sát số được so sánh với kết quả thí nghiệm trên mô hình thực tế tại phòng thí nghiệm Cơ học máy - Học viện KTQS. Kết quả nghiên cứu giúp ta hiểu rõ hơn về ứng xử của tấm có vết nứt khi chịu tải di động, đây là cơ sở để chẩn đoán khuyết tật trong tấm bằng phương pháp không phá hủy, nhờ phân tích đáp ứng của tấm.

  • BB


  • Authors: Trần Thanh Tùng;  Advisor: -;  Participants: Mai Duy Khánh (2020)

  • Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu quy luật diễn biến của doi cát phía bắc cửa Tiên Châu và phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố động lực sông tới các diễn biến của doi cát và cửa Tiên Châu trong quá khứ từ các tư liệu ảnh vệ tinh Landsat thu thập trong giai đoạn từ 1988 đến 2019. Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố hình học của cửa Tiên Châu và doi cát bờ bắc cửa với lưu lượng đỉnh lũ Qmax của sông Kỳ Lộ.

  • BB


  • Authors: Phan Văn Trường;  Advisor: -;  Participants: - (2020)

  • Nước dưới đất đồng bằng ven biển tỉnh Ninh Thuận phân bố chủ yếu trong hai tầng chứa nước Holocen và Pleistocen với diện tích tự nhiên khoảng 672 km2. Phạm vi chứa nước nhạt dưới đất trên toàn đồng bằng đối với tầng qh là 115,8 km2 và trong tầng qp là 197 km2. Phần diện tích còn lại, nước dưới đất bị nhiễm mặn không có khả năng khai thác sử dụng. Độ chứa nước vùng nước nhạt chỉ ở mức nghèo đến trung bình với trữ lượng khai thác tiềm năng tầng qh là 28.250 m3/ngày và tầng qp là 65.848 m3/ngày.

  • BB


  • Authors: Khương Thị Hải Yến;  Advisor: -;  Participants: Lê Minh Tùng; Bùi Hữu Anh Khoa (2020)

  • Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng thực tế của hệ thống HP đang hoạt động cung cấp nhiệt làm nóng nước cho bể bơi thông qua hệ số COPsys (Coefficient of Performance). Kết quả cho thấy hệ số COPsys phụ thuộc vào khoảng chênh nhiệt độ của nước nóng trong bể bơi với nhiệt độ môi trường và số lượng HP hoạt động đồng thời trong hệ thống. Trong điều kiện nhiệt độ môi trường trung bình 18,6oC, bể bơi có dung tích 507m3 và diện tích mặt thoáng 390m2, nhiệt độ nước duy trì trong bể từ 25 oC-30oC cho hệ số COP thực tế khi chạy đồng thời với 06 HP và 02 HP lần lượt đạt 4,01 và 4,56. Hệ số COP này thấp hơn giá trị 5,0 do nhà sản xuất cung cấp nhưng vẫn cao hơn...

  • BB


  • Authors: Hoàng Thị Phương;  Advisor: -;  Participants: Vũ Quốc Vương (2020)

  • Bài báo đề cập đến một số giải pháp tái sử dụng lượng tro xỉ của nhà máy nhiêt điện Vũng Áng. Trong số các giải pháp khả thi, việc sử dụng tro xỉ làm vật liệu xây dựng là một giải pháp tích cực, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhằm tháo gỡ triệt để vấn đề môi trường và lâu dài. Kết quả nghiên cứu nói chung đánh giá việc sử dụng các phế phẩm này rất khả quan, mang hiệu quả thực tiễn cao và đem lại lợi ích nhiều mặt. Thực tế cho thấy các phương án khả thi về mặt kỹ thuật, công nghệ và quy mô công suất tại Việt Nam lượng tro bay và xỉ đáy lò được sử dụng trong ngành xây dựng ứng dụng: phụ gia bê tông 29%, xây dựng đường 37%, chất độn 5%, xi măng tro bay 15%, khối bê tông 45%, nguyên liệu c...

  • BB


  • Authors: Vũ Văn Tấn;  Advisor: -;  Participants: - (2020)

  • Trong bài báo này, tác giả đề cập đến cách ước lượng giá trị của lực giảm chấn bán tích cực ER được sử dụng cho hệ thống treo bán tích cực trên ô tô. Trước tiên một mô hình dao động ¼ của ô tô được kết hợp với mô hình động lực của giảm chấn điện hóa ER. Trong đó lực của giảm chấn ER là một biến của véc tơ trạng thái trong phương trình không gian trạng thái tổng quát. Sau đó bộ quan sát H2 được thiết kế để ước lượng giá trị của lực giảm chấn bằng cách giảm thiểu tối đa tác động của biên dạng mặt đường và các nhiễu đo lường của cảm biến đến sự sai lệch của các biến trong véc tơ trạng thái (giữa tín hiệu thực và giá trị ước lượng). Kết quả mô phỏng trong miền tần số và miền thời gian bằn...

  • BB


  • Authors: Trần Xuân Hải;  Advisor: -;  Participants: Vũ Hoàng Hưng (2020)

  • Dựa trên những nghiên cứu về tối ưu hình dạng giàn ống thép trong công trình xây dựng, bài báo đã cải tiến hình thức kết cấu giàn ống thép của cửa van phẳng kéo đứng để đáp ứng yêu cầu làm việc hai chiều trong các công trình kiểm soát nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trạng thái làm việc của giàn được đánh giá hiệu quả thông qua so sánh về độ cứng với kết cấu giàn thường dùng hiện nay trong cùng một điều kiện về kích thước, vật liệu, trọng lượng và chịu tải. Ngoài ra đối với kết cấu giàn ống thép cũng đã được tính toán tối ưu về vị trí và kích thước để giảm trọng lượng bản thân. Các kết quả nghiên cứu được thực hiện trên mô hình 3D với sự trợ giúp của phần mềm ANSYS với số liệu đầu v...

  • BB


  • Authors: Bùi Thị Thu Hòa;  Advisor: -;  Participants: - (2020)

  • Trong bài viết này, tác giả muốn đề cập đến cơ sở khoa học trong quản lý nước sinh hoạt thông qua các phương pháp định giá, cũng như đánh giá thực trạng vấn đề này về quản lý nước sinh hoạt trong điều kiện Việt Nam.

  • BB


  • Authors: Vũ Văn Tấn;  Advisor: -;  Participants: - (2020)

  • Bằng cách biến đổi hợp lý chỉ tiêu đặc tính hiệu suất J và véc tơ trạng thái x, có thể tổng hợp bộ điều khiển đáp ứng các mục tiêu thiết kế của hệ thống treo chủ động. Ba bộ điều khiển LQR đã được thiết kế, trong đó bộ điều khiển đầu tiên tập trung vào tiêu chí nâng cao độ an toàn chuyển động, trong khi bộ điều khiển thứ hai và thứ ba ưu tiên tiêu chí nâng cao độ êm dịu chuyển động. Kết quả mô phỏng trên miền tần số cho thấy bằng cách thay đổi giá trị của các trọng số cũng như đặc tính hiệu suất, ba bộ điều khiển này đều nâng cao chất lượng dao động của ô tô theo các cách khác nhau.

  • BB


  • Authors: Đặng Thị Kim Nhung, ,;  Advisor: -;  Participants: Đặng Vi Nghiêm; Nguyễn Đức Hoàng; Nguyễn Ngọc Tuấn (2020)

  • Nghiên cứu đánh giá phân bố và mối liên hệ nguồn nước giữa vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên sử dụng các phương pháp tổng hợp thống kê kết hợp với mô hình toán thủy văn để đánh giá một cách toàn diện về nguồn nước và mức độ liên hệ của nguồn nước trên các lưu vực sông trong điều kiện hiện trạng và theo các kịch bản biến đổi khí hậu. Kết quả của nghiên cứu là một trong những cơ sở quan trọng trong việc lập kế hoạch quản lý nguồn nước phục vụ sản xuất và công tác phòng chống hạn hán thiếu nước trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.

  • BB


  • Authors: Đặng Xuân Phong;  Advisor: -;  Participants: Đào Thị Thảo; Trương Phương Dung; Nguyễn Quang Minh (2020)

  • Lượng mưa và độ che phủ của thảm phủ thực vật là những nhân tố đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới sự thay đổi lưu lượng dòng chảy trên lưu vực sông. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là làm rõ những ảnh hưởng của các yếu tố này tới lưu lượng dòng chảy trên lưu vực sông, lấy ví dụ lưu vực sông Srepok. Mô hình SWAT-CUP với thuật toán SUIF-2 được áp dụng để mô phỏng dòng chảy trên lưu vực trong 4 năm 2005, 2010, 2015 và 2018. Kết quả đã chứng tỏ tính ưu việt của mô hình SWAT trong mô phỏng dòng chảy và làm sáng tỏ vai trò của sự thay đổi độ che phủ của thảm phủ thực vật tới dòng chảy.

  • BB


  • Authors: Trịnh Xuân Mạnh;  Advisor: -;  Participants: Trần Quốc Việt; Lê Thị Thường (2020)

  • Để phục vụ có hiệu quả cho việc hiệu chỉnh và kiểm định mô hình, các phương pháp phân tích độ nhạy thông số cần được áp dụng trước tiên làm cơ sở để đưa ra một chiến lược hiệu chỉnh, tối ưu thông số sao cho phù hợp nhất với từng loại mô hình, lưu vực và số liệu có sẵn. Bài báo giới thiệu và phân tích một số phương pháp phân tích độ nhạy thông số thường được sử dụng trong các nghiên cứu trên thế giới và ứng dụng cho mô hình mưa dòng chảy thông số tập trung NAM trên lưu vực sông Vệ.

  • BB


  • Authors: Đoàn Viết Long;  Advisor: -;  Participants: Võ Nguyễn Đức Phước; Nguyễn Chí Công; Nguyễn Tiến Cường (2020)

  • Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của phân bố mưa đến nguy cơ sạt lở đất bằng mô hình thống kê Frequency Ratio cho 6 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Trong đó, phân bố mưa được xem xét là phân bố mưa bình quân nhiều năm và phân bố mưa thời đoạn theo tần suất trung bình. Các yếu tố ảnh hưởng khác được xét đến bao gồm: cao độ, độ dốc, địa mạo, loại đất, sử dụng đất. Mô hình này được xây dựng và kiểm định dựa trên 445 điểm sạt lở đã xảy ra. Chỉ số AUC và LD được sử dụng để đánh giá hiệu quả mô hình. Kết quả cho thấy trường hợp sử dụng phân bố mưa thời đoạn 3 ngày ứng với tần suất 50% cho chỉ số AUC và LD tốt hơn trường hợp dùng phân bố mưa bình quân nhiều năm.

  • BB


  • Authors: Phan Khánh Linh;  Advisor: -;  Participants: Lê Hải Trung; Cao Thị Ngọc Ánh; Nguyễn Trường Duy (2020)

  • Trong những năm qua, một số giải pháp chống xói lở như kè biển, đê chắn sóng, mỏ hàn… đã được triển khai dọc cung bờ giữa cửa sông Phú Hài và Cà Ty. Tuy nhiên, đoạn bờ biển phường Thanh Hải vẫn chưa được bảo vệ. Chỉ riêng trong năm 2017 và 2018, nhiều vị trí ở đoạn bờ này đã bị xói lở tới hơn 50 m, trên chiều dài hơn 1 km. Do vậy, bài báo này tập trung nghiên cứu bố trí không gian giải pháp chống xói lở, bảo vệ đoạn bờ biển Thanh Hải. Mô hình MIKE 21 được sử dụng nhằm mô phỏng, đánh giá quá trình diễn thế bờ biển với hai phương án gồm hệ thống đê chắn sóng tách bờ và hệ thống mỏ hàn đuôi cá. Kết quả tính toán chỉ ra rằng phương án hai khiến cho bờ biển được bồi tụ và sớm đạt trạng thá...

  • BB


  • Authors: Phạm Thị Hương Lan;  Advisor: -;  Participants: Ngô Lê Long; Đỗ Quang Minh (2020)

  • Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích cấp bậc (AHP) để đánh giá nguy cơ xói lở bờ sông vùng hạ du hệ thống sông Đồng Nai. Kết quả phân vùng nguy cơ xói lở cho thấy vùng hạ du sông Đồng Nai có khoảng 5% chiều dài bờ sông có nguy cơ xói lở cao, 24% chiều dài bờ sông có nguy cơ xói lở trung bình và 55% chiều dài bờ sông có nguy cơ xói lở thấp. Các khu vực có nguy cơ xói lở cao như đoạn qua xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai, qua huyện Định Quán và Tân Uyên của Bình Dương.

  • BB


  • Authors: Nguyễn Quang Phú;  Advisor: -;  Participants: Đỗ Việt Nam (2020)

  • Bài báo đã nghiên cứu và ứng dụng các nguồn phụ phẩm công nghiệp (Xỉ lò cao hoạt tính và Tro bay) làm phụ gia khoáng kết hợp với dung dịch hoạt hóa (dung dịch NaOH và Na2SiO3) để sản xuất bê tông Geopolymer ứng dụng cho các công trình Thuỷ lợi. Bê tông Geopolymer thiết kế có cường độ và tính bền cao, mác chống thấm vượt trội so với bê tông truyền thống, đặc biệt là khả năng chống xâm thực rất tốt. Bê tông Geopolymer (BT GPM) là loại “bê tông xanh” thân thiện với môi trường, khi được nghiên cứu và đưa vào ứng dụng trong xây dựng sẽ mang lại hiệu quả về kinh tế và góp phần bảo vệ môi trường.